Trống đồng Ngọc Lũ


Chất liệu: Đồng.
Kích thước: đường kính mặt: 79,3 cm; đường kính chân: 80 cm; cao: 63 cm.
Niên đại: 2500 - 2000 năm cách ngày nay.
Loại hiện vật: Cổ vật, Văn hóa Đông Sơn.

Giá trị tiêu biểu: Trống đồng Ngọc Lũ là hiện vật tiêu biểu nhất của nền văn hóa Đông Sơn nổi tiếng khu vực Đông Nam Á. Trong hàng ngàn chiếc trống được phát hiện từ trước đến nay, trống đồng Ngọc Lũ vẫn là chiếc trống có kiểu dáng và kích thước hài hòa, đề tài trang trí đẹp và phong phú nhất, phản ánh nhiều nét đặc trưng văn hóa của cư dân Lạc Việt. Trống đồng giữ một vị trí quan trọng trong sinh hoạt đa dạng của cư dân xã hội Đông Sơn. Trống đồng vừa là nhạc khí dùng trong những nghi lễ chính như: lễ mai táng, lễ hội... vừa là biểu tượng quyền lực của tầng lớp thống trị thời kỳ Hùng Vương dựng nước. Trên trống thể hiện những hình trang trí phong phú, diễn tả nhiều hình thái sinh hoạt khác nhau của xã hội Đông Sơn, qua đó hiểu thêm đời sống vật chất và tinh thần của tổ chức xã hội cư dân thời đại dựng nước. Trống đồng Ngọc Lũ là di vật độc đáo và tiêu biểu của văn hóa Đông Sơn, là biểu tượng của nền Văn minh Việt Cổ và có vị trí quan trọng trong đời sống của cư dân Đông Sơn.
Trong thời kỳ hình thành và phát triển của nền văn minh Việt cổ, dân tộc ta đã có một loại di vật tiêu biểu đó chính là Trống đồng. Có thể nói đây là sản phẩm của thời kỳ cực thịnh của Nhà nước Văn Lang. Trống đồng Ngọc Lũ có niên đại khoảng 2.500 năm, được xếp vào loại H1 - Heger (theo sự phân loại dựa trên 165 chiếc trống đồng được biết đến thời điểm ấy của học giả F.Héger - người Áo - vào năm 1902), H1 là “loại cổ nhất, cơ bản nhất và từ loại này mà các loại khác ra đời”. Ngọc Lũ là một trong số không nhiều trống đồng giữ vai trò ấy.

Trống đồng Ngọc Lũ I là một kiệt tác được sáng tạo trong thời kỳ cực thịnh của văn hóa Đông Sơn.

Người ta cho rằng trống đồng Ngọc Lũ và Đông Sơn đều là dòng trống cổ nhất của Việt Nam. Trống đồng Ngọc Lũ được phát hiện vào dịp nông dân đi đắp đê ở hữu ngạn sông Hồng và tìm thấy. Sản phẩm được cúng vào đình làng Ngọc Lũ, để khi có đình đám cúng tế thì dùng.

Nhưng đến năm 1902 nhân cuộc đấu xảo ở Hà Nội, trống được đem ra trưng bày. Viện Viễn Đông Bác cổ đã mua lại là lưu trữ ở Bảo tà nhất của dòng trống đồng Đông Sơn.

Đến nay, nhiều câu hỏi xung quanh Bảo vật quốc gia này vẫn còn chưa được giải đáp hoặc có lời giải nhưng vẫn còn nhiều nghi vấn, khúc mắc..Dù vậy, một điều chắc chắn không ai có thể phủ nhận đó là Trống đồng Ngọc Lũ là một bảo vật đặc biệt linh thiêng của người Việt. Bảo vật này hội tụ cả một nền văn minh có niên đại hơn 2.500 năm.

Trống đồng Ngọc Lũ là biểu tượng cường thịnh của nền văn hóa Đông Sơn mà ở đó có đầy đủ yếu tố kỹ thuật đúc đồng, trình độ mỹ thuật và chế tác đồ đồng rất cao mà ngày nay chúng ta vẫn vô cùng thán phục. Trống đồng Ngọc Lũ hay trống đồng Đông Sơn đều là dấu ấn đặc biệt của thời đại các Vua Hùng dựng nước.

Trống có patin màu xanh ngả xám, đường kính mặt 79,3cm, cao 63cm, nặng 86kg, thuộc loại kích thước lớn. Mặt trống đúc liền chờm ra khỏi tang. Tang trống nở phình, thân trống hình trụ đứng, chân trống hình nón cụt hơi choãi.

Mặt trống chính giữa đúc nổi ngôi sao 14 cánh bao quanh một mặt tròn nổi, chính là núm để đánh trống. Xen giữa các cánh sao là những họa tiết hình lông công.

Bao quanh ngôi sao là 16 vành hoa văn. Vành 1, 5, 11 và 16: Những hàng chấm nhỏ. Vành 2, 4, 7, 9, 13 và 14: Những vòng tròn chấm giữa có tiếp tuyến. Vành 3: Những hàng chữ ∫ gẫy khúc nối tiếp. Vành 12 và 16: Văn răng cưa. Vành 6, 8 và 10: Hình người và động vật đi quanh ngôi sao theo hướng ngược chiều kim đồng hồ. Trong đó là các nhóm: Người mặc áo lông chim đang nhảy múa, người giã gạo chày đôi, người đánh trống, nhà sàn mái cong, hươu đang đi cùng chim mỏ ngắn bay và chim mỏ dài đứng.

Tang trống chính là chiếc hộp cộng hưởng khuếch đại âm thanh. Phần trên có 6 vành hoa văn hình học. Vành 1 và 6: Những đường chấm nhỏ thẳng hàng. Vành 2 và 5: Văn răng cưa. Vành 3 và 4: Hoa văn vòng tròn đồng tâm chấm giữa nối với nhau bằng những tiếp tuyến song song. Phần dưới là 6 chiếc thuyền chuyển động từ trái sang phải, chở chiến binh tay cầm vũ khí và tù binh, xen giữa là những hình chim cò ngậm cá, chó săn được thể hiện theo lối cách điệu. Gắn giữa tang và thân trống là hai đôi quai kép đúc nổi hoa văn bông lúa, đối xứng nhau.

Thân trống hình trụ đứng, là bộ phận nắn âm thanh. Phần giữa của thân có những hoa văn hình học chạy song song cắt nhau tạo thành 6 ô hình chữ nhật. Trong ô là các võ sĩ đầu đội mũ lông chim, tay cầm vũ khí vừa đi vừa múa. Phần dưới của thân là ba vành hoa văn hình học, giữa là vành văn vòng tròn chấm giữa có tiếp tuyến. Hai bên là hai đường chấm nhỏ. Ngoài cùng là hai đường chỉ trơn.


Nhận xét

Bài đăng phổ biến