BIA SÙNG CHỈ
- Chất liệu: Đá
- Niên đại: Năm 1696
Bia có trọng lượng khoảng hơn 1000kg, chiều cao 166cm, chiều rộng chân đế bia 89cm được chế tác bằng đá xanh 4 mặt, có hình thức giống nhau và được khắc chữ Hán với nội dung khác nhau. Toàn bộ bia được đặt trên đế 3 cấp, 4 mặt hình vuông. Phía trên có mái che hình nón úp. Trên cùng có lồ ô. Phần trán bia được trang trí hoa văn hình chữ V cách điệu, cùng các họa tiết hình mây lửa trên diềm bia. Nghệ thuật trang trí trên bia là các họa tiết trang trí kiến trúc ở thế kỷ XVII đầu thế kỷ XVIII thời Lê - Trịnh, như: các áng mây cuộn xoắn lại cả hai đầu, phía sau mỗi áng mây lại có một giải mây cong vút hình nhọn (thường gọi là mây lửa). Phần diềm của bệ bia được các nghệ nhân chạm khắc trang trí vân hình sóng nước nhịp nhàng, được lặp đi lặp lại liên tục. Ở mỗi khúc uốn hình sóng được điểm xuyến một bông hoa nhiều cánh đơn giản, được sắp xếp hoàn chỉnh, theo trục đối xứng chân diềm bia. Hình trang trí được chạm khắc với đường nét sắc nhọn, nhưng uyển chuyển, sinh động (ẩn dụ cầu mong cho trời yên biển lặng, mưa thuận gió hòa, đất nước phát triển, dân chúng có cuộc sống thanh bình no đủ). Phía trên 4 mặt diềm bia đều có khắc câu đối chữ Hán.
Tại Di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia đền thờ Hà Tông Mục hiện có tấm bia lớn gọi là Sùng Chỉ bi ký. Nội dung được Giáo sư Hà Văn Tấn và học giả Đào Quang Luận phiên dịch. Đó là tư liệu quý giá về xuất thân và hành trạng của một danh nhân lịch sử của đất Hồng Lam.
Hà Tông Mục sinh ngày 25/9 năm Quý Tỵ (14/11/1653), tên húy là Lệnh, tự Hậu Như, hiệu Thuần Như, Chuyết Trai, Độn Phủ; quê xã Tỉnh Thạch, tổng Phù Lưu, huyện Thiên Lộc, tỉnh Nghệ An.
Ông xuất thân trong một dòng họ có danh tiếng và truyền thống văn hiến ở đất Hồng Lam, là hậu duệ của tướng quân Hà Mại (Tông Hiểu). Sinh ra tính trời dĩnh ngộ, thông minh hơn người, 7 - 8 tuổi, ông đã thông thi, lễ; 11 tuổi giỏi làm văn. Năm Quý Sửu (1673), trúng Tường sinh. Năm Ất Mão (1675), đỗ đầu khoa thi hương (tức giải nguyên - hương cống). Năm Quý Hợi (1683) thi Hội vào mùa xuân trúng Tam trường. Năm Giáp Tý (1684) được cử làm Phụng Nhập thị nội (chánh ngũ phẩm). Năm 35 tuổi khoa Mậu Thìn (1688) đỗ Tam giáp đồng tiến sĩ xuất thân.
Gia phả họ Hà và bài minh văn bia Sùng Chỉ đã viết: “Vâng lệnh kiêm chức Đốc đồng hai xứ Tuyên - Hưng, năm Tân Mùi (1691) vâng lệnh tới hội khám châu Bảo Lạc (thuộc huyện Bảo Lạc, tỉnh Cao Bằng ngày nay) để giải quyết việc biên giới phía Bắc, cùng với viên quan của Bắc triều (nhà Thanh) làm việc và họa thơ vui vẻ. Năm Nhâm Thân, vâng lệnh nhậm chức Tuần tỉnh An Biên (1692), Nhân dân cùng trai gái địa phương quây quần đón tiếp người có đức tốt mà lòng dân đã mong đợi từ lâu”.
Để củng cố tình hình trong nước, nhà Lê chủ trương thương thuyết hòa hiếu với nhà Mãn Thanh nhằm giữ thế cân bằng, tránh một cuộc chiến tranh không cần thiết. Chúa Trịnh đã cử đoàn sứ giả lên biên giới phía Bắc do Tiến sĩ Hà Tông Mục làm Chánh sứ để hội kiến với đại diện nhà Thanh. Lời lẽ khiêm tốn, thông minh, sắc sảo về ngoại giao của sứ giả nhà Lê, mà đại diện là Chánh sứ Hà Tông Mục đã làm cho quan quân nhà Thanh phải kính phục.
Về vấn đề này, sử cũ chép: Năm Kỷ Mão, Chính Hòa năm thứ 20 (1699), mùa hạ, tháng tư, sai Hà Tông Mục và Nguyễn Hành kinh lý vùng đất biên giới Tuyên Quang. Bấy giờ, Sầm Trì Phượng ở châu Tiểu Trấn Yên của nhà Thanh nhiều lần đem quân lấn chiếm và quấy rối vùng biên giới Bảo Lạc xứ Tuyên Quang. Quân đóng giữ ở đây không thể chế ngự được, bèn sai Hà Tông Mục và Nguyễn Hành đi kinh lý vùng đất đó. Hà Tông Mục gửi thư cho Trì Phượng, hiểu dự mọi lý lẽ sự việc. Trì Phượng trả lời thư có ý hổ thẹn và tạ lỗi, xin rút hết quân về. Dân biên giới lại yên như cũ. Đến khi về, chúa Trịnh Căn khen tài năng của họ, cân nhắc Hà Tông Mục làm Tự khanh, Nguyễn Hành làm Đô cấp sự trung. Sách Lịch triều tạp kỷ, Các nhà khoa bảng Việt Nam cũng chép lại sự việc này.
Thời gian này, cùng với việc thống lĩnh thủ quân, Tiến sĩ Hà Tông Mục còn được vua Lê, chúa Trịnh giao trọng trách tiếp tục đi sứ sang phương Bắc để giữ mối bang giao hòa hiếu vốn đã có từ trước với nhà Thanh nhằm mục đích giữ vững chủ quyền biên giới nước ta. Sau đó, ông được triều đình nhà Lê phong chức Tự khanh, vẫn được chúa Trịnh tin dùng cử làm Chánh sứ dẫn đầu phái bộ sang hội kiến với nhà Thanh vào năm Nhâm Ngọ (1702).
Trong chuyến đi sứ này, do đối đáp thông minh và sắc sảo, Hà Tông Mục được hoàng đế nhà Thanh là Khang Hy trọng nể và đề tặng 3 chữ: Nhược - Xung - Hiên (nghĩa là khen người có tài, đức vẹn toàn). Hiện nay, tấm biển khắc 3 chữ này vẫn còn được lưu giữ trong đền thờ Hà Tông Mục ở xã Tùng Lộc.
Sau khi hoàn thành sứ mệnh đi sứ trở về, Hà Tông Mục được vua Lê gia phong chức Bồi tụng, Tả thị lang bộ Hình, tước Hoan Lĩnh nam. Và 3 năm sau, năm Bính Tuất (1706), Hà Tông Mục được phong giữ chức Tham chính sứ đạo Sơn Nam.
Tiến sĩ Hà Tông Mục chẳng những được triều đình trọng dụng mà còn được Nhân dân yêu mến, kính trọng. Ngay từ những năm còn làm quan dưới triều Lê, ông đã được Nhân dân quê nhà tin yêu và lập sinh từ (là đền thờ người còn sống) và dựng bia Sùng Chỉ để ghi nhận công lao với đất nước và Nhân dân quê hương. Đây có thể nói là một biệt lệ ít có trong lịch sử nước nhà ở các triều đại trước. Hiện nay, tại quê hương ông còn lưu giữ tấm bia cổ đó.
Bia được dựng năm Chính Hòa thứ 17 (1696) để ghi nhận công lao, sự nghiệp của Hà Tông Mục đối với đất nước và quê hương. Trong lịch sử ít có người được nhân dân tôn thờ khi còn sống như Tiến sĩ Hà Tông Mục. Khi Nhà Thanh có âm mưu lấn chiếm nước ta, Chúa Trịnh một mặt đưa ra chính sách ngoại giao hòa hiếu, mặt khác ra sức chống lại các cuộc tấn công, xâm nhập vùng biên giới. Người thực hiện được chính sách đó là Tiến sĩ Hà Tông Mục - là nhà sử học uyên thâm, một danh tướng, một nhà ngoại giao, được chúa Trịnh cất nhắc ông lên làm Tự Khanh (1699) và Tả Thị Lang Bộ Hình, Phủ doãn phủ Phụng Thiên. Bia Sùng Chỉ nói về hành trạng của Hà Tông Mục đã trở thành bảo vật quốc gia, liệt vào danh mục đặc biệt để bảo tồn và phát huy những giá trị trong nền văn hiến của quê hương Hà Tĩnh và nước nhà.
.jpg)
.jpg)
.jpg)
Nhận xét
Đăng nhận xét